KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG NHẬT BẢN

May 18, 2018

Việt Nam và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21 tháng 9 năm 1973. Đến nay, hai nước đã xây dựng và không ngừng phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác gắn bó và toàn diện. Quan hệ hai nước đã đạt đến một đỉnh cao mới, trở thành “đối tác chiến lược vì hoà bình và phồn vinh Châu Á”.

A. CÁC THÔNG TIN CHUNG

1. Vị trí địa lý :

Nhật Bản là một đảo quốc ở Đông Bắc Á. Các đảo Nhật Bản là một phần của dải núi ngầm trải dài từ Đông Nam Á tới Alaska. Nhật Bản có bờ biển dài 37.000 km, gồm 4 đảo lớn theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là: Hokkaidou, Honshu, Shikoku, Kyushu và rất nhiều đảo nhỏ xung quanh. Đồi núi chiếm 73% diện tích tự nhiên cả nước, trong đó không ít núi là núi lửa. Ngọn núi cao nhất là núi Phú Sĩ (Fujisan) cao 3776 mét. Giữa các núi là các cao nguyên và bồn địa. Nhật Bản có nhiều thác nước, suối, sông và hồ. Đặc biệt, ở Nhật Bản có rất nhiều suối nước nóng, là nơi hàng triệu người Nhật thường tới để nghỉ ngơi và chữa bệnh.                                                 

2. Thủ đô, các thành phố lớn

Nhật Bản có 47 tỉnh và 12 thành phố, chia thành 9 vùng, bao gồm: Hokkaido, Tohoku, Kanto, Chubu, Kinki, Chugoku, Shikoku, Kyushu, và Okinawa. Thủ đô là Tokyo - cũng là trung tâm chính trị, kinh tế và thông tin của Nhật Bản.                                             

3. Diện tích, dân số, cơ cấu dân số, tỷ lệ lao động và thất nghiệp

3.1. Diện tích:

Nhật Bản có diện tích khoảng 377.829 km², là một quốc gia nhỏ hẹp, chiều dài từ Bắc tới Nam khoảng 3.500km, do địa hình nhiều đồi núi nên Nhật Bản chỉ có rất ít đất có thể dùng để trồng trọt. Các cánh đồng được canh tác chiếm 12,3%, diện tích trồng cây ăn quả chiếm 1,1% và đất trồng cỏ chiếm 0,2% diện tích quốc gia. Ngược lại, đất rừng chiếm tỷ lệ lớn nhất, 66,5% trên tổng diện tích đất.  

3.2. Dân số:

Năm 2012, Nhật Bản có khoảng 127,37 triệu dân, chiếm khoảng 1,81% dân số thế giới và đứng thứ 10 trong số các nước đông dân. Dân cư ở Nhật phân bố không đều, phần lớn tập trung ở các trung tâm lớn: Tokyo, Yokohama, Nagoya, Osaka, Kobe và Kyoto. Thủ đô Tokyo có 12,7 triệu người và mật độ dân số cao nhất nước khoảng 54.700 người/ km², trong khi ở Hokkaido - tỉnh thưa dân nhất có mật độ 74 người/ km². Dân số ở các thành phố và các thị trấn chiếm khoảng 4/5 dân số Nhật Bản, chỉ có khoảng 1/5 dân số còn lại sống ở vùng đồng bằng ven biển.

 Dân số Nhật Bản đang già đi quá nhanh, tỷ lệ sinh thấp dẫn đến lực lượng lao động trong nước đang ngày càng thu hẹp, thiếu nhân lực ở độ tuổi lao động trầm trọng.

3.3. Tỉ lệ thất nghiệp tại Nhật Bản

Bộ Lao động Nhật Bản vừa cho biết tỷ lệ thất nghiệp ở nước này trong tháng 5/2012 đã giảm xuống mức 4,4%, thấp hơn 0,2% so với tháng 4. Theo đó, số người thất nghiệp trong tháng 5/2012 là gần 3 triệu người, chiếm 3,3% lực lượng lao động Nhật Bản; số người có việc làm tăng lên gần 63 triệu người, tức cứ 100 người tìm việc thì 81 người có được việc làm, chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng tại vùng Đông Bắc.

Tỷ lệ thất nghiệp giảm chứng tỏ nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới đang hồi phục sau thảm họa động đất kéo theo sóng thần hồi tháng 3/2011.

4. Khí hậu và thời tiết:

Khí hậu Nhật Bản thay đổi rõ rệt theo 4 mùa Xuân – Hạ - Thu – Đông. Mùa Xuấn đến vào đầu tháng 3 được đánh dấu bằng đợt không khí lạnh. Vào cuối tháng 4 và tháng 5, vùng đồng bằng của Nhật Bản có thời tiết đẹp nhất trong năm, nhiệt độ trung bình 120C ở Sapporo, 18,40C ở Tokyo và 19,20C ở Osaka. Cuối mùa xuân, nhiệt độ và độ ẩm tăng lên và nó được nhận biết bởi những đám mây dày rộng chừng 300 – 400 km che phủ mặt trời và làm cho thời tiết bớt đi sự ngột ngạt. Mưa không liên tục nhưng có thể là rất to.

Mùa Hè, mưa thường từ phía Nam và phía Tây Nhật Bản vào đầu tháng 6 và tiến dần lên phía Bắc vào cuối tháng. Giữa mùa hè có những ngày nóng và đêm oi bức do đứng gió. Nhiệt độ trung bình tháng 8 ở Tokyo là 26,70C và 280C ở Osaka. Cuối tháng 8 gió mùa nóng ấm, lập lại những trận mưa đầu mùa hè, ở Sapporo, Sendai và Tokyo đều có mưa nhiều vào tháng 9 (mưa Shurin).

Vào mùa Thu, mưa Shurin tạo một mùa chuyển tiếp ngắn cuối thu vào đầu đến giữa tháng 10 tùy theo vĩ độ và kéo dài đến tháng 11, lúc bắt đầu mùa đông. Mùa thu tiết trời mát mẻ và rất dễ chịu.

Mùa đông đến với Nhật Bản từ đầu tháng 12 đến tháng 2. Hầu hết các vùng của Nhật Bản có tuyết rơi vào mùa đông. Gió mùa Đông Bắc thổi từ lục địa châu Á tới bị chặn bởi hệ thống núi đồi chạy dọc nước Nhật gây ra tuyết rơi nhiều từ Hokkaido đến trung tâm Honshu. Tỉnh Nigata là một trong những tỉnh có nhiều tuyết nhất thế giới với kỷ lục tuyết dày 8 mét. Nhiệt độ trung bình hàng tháng vào mùa đông ở Asahikawa là -8,50C và là thành phố giữ kỷ lục nhiệt độ thấp nhất ở Nhật -410C.

5. Ngôn ngữ

Tại Nhật Bản, có 12 ngôn ngữ thuộc họ ngôn ngữ Nhật Bản, một ngôn ngữ bản xứ không thuộc ngữ hệ Nhật Bản là tiếng Ainu và vài ngoại ngữ như tiếng Anh, tiếng Trung Quốc được người Nhật sử dụng.

6. Tôn giáo

Ở Nhật có hai tôn giáo chính là Thần đạo (Shinto) và Phật giáo. Thần đạo không có người sáng lập, cũng không có các loại kinh kệ riêng như kinh Thánh hay kinh Phật. Phật giáo bắt đầu từ Ấn Độ từ thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên. Một nhánh chính của Phật giáo, nhánh Mahayana hay gọi là Phật giáo Đại thừa đã du nhập vào Nhật Bản. Phật giáo được du nhập vào Nhật từ Trung Hoa và Triều Tiên vào thế kỷ thứ 6.

7. Đồng tiền, tỷ giá quy đổi VND

Yên là đơn vị tiền tệ của Nhật Bản, có ký hiệu là ¥, và có mã là JPY, do Ngân hàng Nhật Bản phát hành.

Tỷ giá quy đổi: 1 Yên ≈ 208,58 VND (theo thời điểm 24/05/2018)

8. Giao thông, phương tiện đi lại

Tại Nhật Bản, các phương tiện giao thông công cộng đi lại chủ yếu bằng tàu điện. Hệ thống giao thông ở Nhật rất phát triển, tại các thành phố lớn, chỉ cần đi bộ 5 ~ 15 phút sẽ đến được ga tàu gần nhất. Bên cạnh đó, ở một số vùng ngoại ô và nông thôn, người Nhật Bản sử dụng xe buýt (nếu không có xe hơi). Trong thành phố cũng sẽ có một số tuyến xe buýt nếu đi tàu không tiện lợi.

B. THÔNG TIN VỀ LAO ĐỘNG DI CƯ

I. Thị trường lao động Nhật Bản   

Tiêu chuẩn tuyển chọn:

- Đủ 18 tuổi trở lên; đáp ứng yêu cầu về sức khỏe.

- Trình độ học vấn: Phổ thông trung học trở lên.

* Ngành nghề: Tu nghiệp và thực tập tại các nhà máy dệt may, cơ khí, nhựa, chế biến thủy sản, thợ mộc, xây dựng, nông nghiệp...

* Thu nhập bình quân: khoảng từ 80.000 Yên – 100.000 Yên/tháng (tương đương khoảng 22.000.000 đồng – 28.000.000 đồng/tháng.

II. Các chương trình hợp tác đưa lao động Việt Nam sang Nhật Bản làm việc

Năm 1992, Nhật Bản chính thức tiếp nhận tu nghiệp sinh Việt Nam nhằm chuyển giao công nghệ, kỹ thuật, kỹ năng cho Việt Nam thông qua hình thức tiếp nhận nhân lực trẻ  của Việt Nam sang Nhật Bản thực tập nâng cao trình độ tay nghề sau đó trở về nước tiếp tục làm việc trong các công ty có ngành nghề tương tự để áp dụng những kiến thức, kỹ năng đã được thực tập thực tế tại Nhật Bản.

Hiện nay, hàng năm Nhật Bản tiếp nhận khoảng 60.000 lao động nước ngoài vào làm việc dưới 02 hình thức:

-  Chương trình tu nghiệp, thực tập sinh kĩ năng dành cho người nước ngoài.

+ Giai đoạn tu nghiệp: Giai đoạn tu nghiệp có thời gian 2 tháng với mục đích hướng dẫn, truyền đạt cho tu nghiệp sinh về những ký thuật, kỹ năng, kiến thức về nghề nghiệp và công nghiệp Nhật Bản.

+ Giai đoạn thực tập kỹ năng: Sau khi kết thúc giai đoạn tu nghiệp và vượt qua kỳ kiểm tra chất lượng của phía Nhật Bản tu nghiệp sinh sẽ tiếp tục 34 tháng tại Nhật Bản  để ứng dụng những kiến thức, kỹ năng đã học hỏi trong thời gian tu nghiệp để hoàn thiện kĩ năng, tay nghề chuyên môn trong ngành nghề đã được đào tạo. Từ ngày 1-11-2017, chính sách mới có hiệu lực cho phép người lao động tăng thời gian thực tập sinh từ ba năm lên năm năm.

-  Tiếp nhận kỹ sư (lao động kỹ thuật cao): Nhật Bản hiện đang phải đối mặt với tình trạng số lượng kỹ sư trẻ và nhân viên trong các ngành liên quan đến công nghệ ngày một thu hẹp dần. Chính vì vậy nguồn nhân lực mà Nhật Bản đang hướng tới là nhân công nước ngoài. Ngoài trình độ chuyên môn kỹ thuật, các ứng viên phải có khả năng giao tiếp và làm việc thông thạo bằng tiếng Nhật. Đây là một trở ngại với các kỹ sư nước ngoài nói chung và kỹ sư Việt Nam nói riêng khi tham gia vào thị trường lao động kĩ thuật cao này.

Tuy nhiên, nếu được đào tạo bài bản các kỹ sư Việt Nam hoàn toàn có thể đáp ứng được các yêu cầu của nhà tuyển dụng Nhật Bản.

III. Tình hình thực tập sinh Việt Nam đi tu nghiệp tại Nhật Bản

Việt Nam và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21 tháng 9 năm 1973. Đến nay, hai nước đã xây dựng và không ngừng phát triển mối quan hệ hữu nghị và hợp tác rất gắn bó và toàn diện. Quan hệ hai nước đã đạt đến một đỉnh cao mới, trở thành “đối tác chiến lược vì hoà bình và phồn vinh Châu Á”.

Nhật Bản là quốc gia có nền kinh tế lớn thứ ba toàn cầu. Nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài của Nhật Bản rất lớn, mỗi năm tiếp nhận hơn 100.000 thực tập sinh nước ngoài, trong đó có khoảng 6.000 thực tập sinh Việt Nam. Nhật Bản được đánh giá là thị trường tiềm năng rất lớn cho thực tập sinh Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam có gần 20.000 thực tập sinh đang làm việc tại Nhật Bản trong 63 nhóm ngành nghề khác nhau, là quốc gia có số lượng thực tập sinh lớn thứ hai trong tổng số 15 quốc gia phái cử, chỉ sau Trung Quốc, vượt lên trên Indonesia, Philippines và Thái Lan.

Nhìn chung, các thực tập sinh Việt Nam đều có công việc phù hợp, điều kiện làm việc tốt và thu nhập ổn định.           

IV. Một số quy định của Luật Quản lý xuất nhập cảnh liên quan đến tiếp nhận thực tập sinh:

1. Tư cách lưu trú:

Luật Quản lý xuất nhập cảnh Nhật Bản quy định người nước ngòai muốn nhập cảnh vào Nhật Bản phải kê khai hồ sơ xin tư cách lưu trú. Tùy theo thân phận, địa vị và mục đích nhập cảnh, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh xem xét để cấp cho tư cách lưu trú. Sau khi có được tư cách lưu trú, người nước ngòai có nguyện vọng nhập cảnh Nhật Bản sẽ tới cơ quan đại diện ngoại giao của Nhật Bản ở nước sở tại để xin visa nhập cảnh. Khi tới Nhật Bản, người nước ngoài chỉ được phép tiến hành các hoạt động theo đúng mục đích đã được quy định ở tư cách lưu trú do phía Nhật Bản cấp.

Đối với thực tập sinh tư cách lưu trú là “Thực tập sinh kỹ năng”. Như vậy, thực tập sinh chỉ được phép tiến hành các hoạt động của một thực tập sinh kỹ năng. Trong trường hợp thực tập sinh bỏ khỏi nơi thực tập để đi làm việc ở các nhà hàng hoặc nhà máy khác… sẽ là vi phạm quy định về tư cách lưu trú và sẽ bị trục xuất khỏi Nhật Bản. Tư cách lưu trú của thực tập sinh sẽ được ghi trên thị thực nhập cảnh và dán vào hộ chiếu của từng thực tập sinh.

2. Thời gian lưu trú:

Nội dung thị thực nhập cảnh dán vào hộ chiếu của thực tập sinh sẽ thể hiện gồm:

·        Tư cách lưu trú;

·        Thời gian lưu trú;

·        Ngày được phép nhập cảnh;

·        Tên sân bay (địa phương) nơi cửa khẩu nhập cảnh;

          Thời gian lưu trú là thời gian thực tập sinh sẽ được phép ở lại Nhật Bản để tiến hành các hoạt động thực tập kỹ năng. Thông thường Bộ Tư pháp Nhật Bản mà trực tiếp là cơ quan quản lý xuất nhập cảnh sẽ cấp tư cách lưu trú với thời hạn 6 tháng hoặc 1 năm cho thực tập sinh. Hết thời hạn lưu trú, cơ quan tiếp nhận phải làm thủ tục để xin gia hạn tư cách lưu trú với tổng thời gian lưu trú tối đa không quá 3 năm đối với thực tập sinh kỹ năng.

3. Thay đổi tư cách lưu trú:

Theo quy định của Luật Quản lý xuất nhập cảnh, người nước ngòai có tư cách lưu trú muốn thay đổi mục đích ở lại phải làm thủ tục xin Bộ trưởng Bộ Tư pháp (đại diện là Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh điạ phương) để thay đổi tư cách lưu trú cho phù hợp với mục đích ở lại.

4. Gia hạn thời gian lưu trú:

Gia hạn thời gian lưu trú là các thủ tục khi một người nước ngòai ở Nhật Bản muốn tiếp tục các hoạt động mà tư cách lưu trú hiện tại của họ cho phép nhưng thời gian lưu trú đã chuẩn bị hết hạn.

5. Nhập cảnh lại Nhật Bản trong thời gian còn tư cách lưu trú:

Theo quy định, người nước ngòai lưu trú tại Nhật Bản được tự do rời khỏi nước Nhật bất kỳ lúc nào mà không cần qua bất cứ thủ tục đặc biệt nào. Thế nhưng, khi ra khỏi Nhật Bản, tư cách lưu trú và thời gian lưu trú tại Nhật Bản của người đó sẽ mất hiệu lực. Để quay trở lại Nhật Bản, người nước ngòai đó sẽ phải làm thủ tục xin thị thực nhập cảnh  mới với nhiều thủ tục phức tạp và mất thời gian. Luật xuất nhập cảnh Nhật Bản cho phép người nước ngòai đang còn thời gian lưu trú tại Nhật Bản được làm thủ tục tái cảnh trước khi người đó xuất cảnh Nhật Bản. Những người đã hòan thành thủ tục tái nhập quốc sẽ được miễn thị thực khi nhập cảnh lại Nhật Bản và chỉ phải làm các thủ tục kiểm tra nhập cảnh đơn thuần.